Bất bình đẳng

Thảo luận trong 'Các môn học khác' bắt đầu bởi observer, 10 Tháng một 2012.

  1. observer New Member

    Đầu năm mới, mình được bạn nhờ viết 1 bài giới thiệu về Bất Bình Đẳng.

    Đây là bài phỏng vấn ông Daron Acemoglu, giáo sư kinh tế học tại MIT - một trong những nhà kinh tế học có uy tín nhất hiện nay.

    Hoa Kỳ, Anh và nhiều quốc gia khác đã trở nên ít bình đẳng hơn trong hơn 30 năm qua. Giáo sư kinh tế học tại MIT nói rằng một điều quan trọng là hiểu tại sao và như thế nào điều này đã diễn ra, cũng như nó có nghĩa gì cho các xã hội của chúng ta.

    Bất bình đẳng là những tin tức thường được nhắc đến hiện nay. Chúng ta nên hiểu thế nào về nó và về những điều xung quanh bất bình đẳng?
    Bất bình đẳng là một trong những điều đã thay đổi khá nhiều tại Hoa Kỳ và tại những nền kinh tế khác trong hơn ba thập niên qua. Nhiều điều không thay đổi về gốc rễ, nhưng bất bình đẳng thì đã. Việc hiểu được tại sao nó lại diễn ra và những hệ quả của nó cho xã hội chúng ta là một điều quan trọng. Vì vậy, sẽ tốt nếu nó được đề cập như một chủ đề quan trọng trên các bản tin, và không có lý do nào để nó bị cấm kỵ. Người ta nói rằng, không có sự đồng thuận rộng rãi nào trong những nhà khoa học xã hội khi nói về bất bình đẳng, và các nhà kinh tế nói chung có thể nghĩ về nó rất khác so với một người dân bình thường. Tôi không nói ai đúng ai sai, nhưng cuộc trò chuyện cần được mở rộng để mang lại những cái nhìn khác nhau.

    Cái nhìn của nhà kinh tế học là gì?

    Quan điểm mặc định của những nhà kinh tế học là sự bất bình đẳng phản ảnh sự khác biệt của vốn con người hoặc sự khác biệt về năng lực sản xuất của những người lao động. Nếu anh bắt đầu với tiền đề rằng, những gì mà người ta kiếm được là tương xứng với những đóng góp của họ cho chủ, và cũng có lẽ là cho xã hội, thì sự tăng lên của bất bình đẳng nói với anh một vài điều về năng suất lao động của con người đã phát triển theo thời gian. Điều này tuyệt không phải là điều mà mọi nhà kinh tế học tin tưởng, nhưng có một cái nhìn chung.
    Nhà kinh tế học đã cắn răng chịu đựng về sự bất bình đẳng khi nhìn vào những điều như sự gia tăng các khoản chi phí trong đại học trong hơn 30 năm qua tại Hoa Kỳ và tại các nền kinh tế khác, cũng như sự gia tăng khoảng cách tương đối giữa những người thu nhập cao – chiếm khoảng 90% của phân phối thu nhập – trái ngược với con số 10%. Chúng ta đã thấy một sự gia tăng lớn trong bất bình đẳng, được đo bằng nhiều cách, và điều này phản ánh thực tế rằng những cá nhân top trên, những người có đào tạo hơn, những người kiếm được nhiều hơn đã trở nên có nhiều kỹ năng hơn. Công nghệ đã trợ giúp họ, toàn cầu hóa đã tiếp tay cho họ và bất bình đẳng tăng lên vì nguyên nhân này.

    Vì vậy nếu một giám đốc điều hành (CEO) đang kiếm được 5 triệu đô la một năm, điều đó là vì anh ta làm ra những việc để xứng đáng với 5 triệu đô la?
    Đó là bởi tại sao tôi nhấn mạnh cái điều 90% so với 10%, bởi vì một khi mà anh nhận được mức rất cao, câu chuyện trở nên hơi khó nuốt. Những nhà kinh tế học đã không tập trung vào những CEO bởi 2 nguyên nhân. Điều này đang thay đổi, nhưng một nguyên nhân là hầu hết những nguồn dữ liệu công khai không có thông tin về những CEO. Đó là bởi vì không có nhiều CEO, hoặc nhiều triệu phú. Vì vậy, khi anh lấy 1 mẫu, ví dụ một mẫu 1% của tất cả các hộ gia đình Hoa Kỳ, anh sẽ không có nhiều thông tin về họ.
    Thứ hai là, dữ liệu được bảo mật tốt. Anh không thể thấy người ta kiếm được chính xác là bao nhiêu. Anh thấy rằng họ kiếm được rất nhiều, có thể là 250000 đô la, nhưng anh không thấy nếu như họ đang làm ra 25 triệu đô la. Bởi lý do đó, nhiều tài liệu về kinh tế lao động đã tập trung vào những điều như, phải chăng những người có trình độ đại học kiếm được nhiều hơn những người tốt nghiệp cấp 3? Phải chăng những người có bằng sau đại học kiếm nhiều hơn? Điều gì đã làm cho sự bất bình đẳng trong thu nhập giữa những luật sư hoặc bác sỹ hoặc những lao động phổ thông?

    Vậy những người không phải là nhà kinh tế học nghĩ gì, theo cách nhìn của ông?

    Cái nhìn của tôi, nếu như tôi là 1 người bình thường, đó là bất bình đẳng là một dấu hiệu của một cái gì đó đang không ổn trong xã hội. Nếu một nhóm đã kiếm gấp đôi so với nhóm khác, và sau đó, hơn 20 năm, tỷ lệ tăng lên bốn, thì đây là 1 điều gì đó có liên quan và có thể ám chỉ một thiếu xót của chính sách xã hội. Cái nhìn của cá nhân tôi là sự hòa trộn giữa cả hai điều này. Nếu anh đang quan sát một người tốt nghiệp đại học bình thường với một người tốt nghiệp cấp 3 bình thường, hoặc điều 90% – 10%, thì những điều, mà những nhà kinh tế học đã nhấn mạnh – công nghệ, toàn cầu hóa, sự thuê ngoài và sự chuyển ra ngoài, sự thay đổi trong việc cung cấp các kỹ năng, v…v – đã đóng một vai trò quan trọng và có thể nói là trong phần lớn các câu chuyện. Nhưng nếu anh muốn hiểu về sự bất bình đẳng ở mức cao nhất, tại sao top 0,1% - thậm chí nhiều hơn cái điều 1% mà những người chiếm phố Wall đang nói – đã kiếm được số tiền lớn đến như thế, thì bạn thực sự phải nghĩ về các khía cạnh chính xách xã hội và khía cạnh chính trị của nó. Có lẽ rằng có một vài thất bại, theo một nghĩa nào đó, trong cách thức mà hệ thống của chúng ta đang vận hành.

    Về bức trang thực tại, bất bình đẳng tại Hoa Kỳ, và tại Anh xấu đến mức nào ?

    Dựa trên công việc của Thomas Piketty và Emmanuel Saez, nếu anh nhìn từ thập niên 50 đến cuối thập niên 70, số phần trăm trên tổng thu nhập quốc gia của 1% giàu nhất là khoảng 10%. Nếu anh nhìn vào những năm 2000, thì nó là trên 20%. Nó đã tăng lên 25% gần đây và sau đó đi xuống. Tại Anh, nó là khoảng 15% tăng từ 7%. Các xu hướng bất bình đẳng trên 50 năm qua tương tự như trong các nền kinh tế Anglo-Saxon, mặc dù có 1 điều quan trọng rằng nó không phải chỉ là hiện tượng Anglo-Saxon. Có các xu hướng tương tự trong nhiều nền kinh tế khác, dù cho có một số ít là chưa nhận được sự chú ý.

    Chẳng hạn như?

    Còn tiếp...

    Interview by
    Sophie Roell
    Published on Dec 14, 2011
    2610 and HKVN like this.
  2. observer New Member

    Ðề: Bất bình đẳng

    Tiếp phần trước


    Chẳng hạn như?

    Phần Lan và Thụy Điển. Thậm chí ở đó có một sự tăng lên trong nhóm đóng góp nhiều nhất – điều đó không có gì ngạc nhiên, khi mà họ có nhiều công ty đa quốc gia, nơi mà các CEO kiếm được nhiều tiền – nhưng sự gia tăng này rất ít được nhắc đến. Sự đóng góp vào tổng thu nhập quốc dân của nhóm 1% có thu nhập cao nhất là thấp hơn đáng kể.

    Một bảng thống kê đã được truyền tay trên Facebook cho thấy một sự so sánh giữa lương của những CEO và của công nhân. Ví dụ, tại Nhật Bản, tỷ lệ là 11/1, tại Đức là 12/1, nhưng tại Hoa Kỳ là 475/1. Điều này nói gì với ông ?

    Tôi không chắc về điều đó, và nó còn tùy vào CEO nào mà anh đưa vào danh sách. Nhưng tại Hoa Kỳ, tỷ lệ này là rất, rất cao. Nếu anh nhìn vào lương nói chung mà 500 công ty lớn nhất trả cho CEO, có lẽ nó cao hơn 200 lần lương trung bình của một công nhân ở Hoa Kỳ. Con số này chắc chắn là cao hơn các con số tại hầu hết những quốc gia khác.

    Tôi không biết có nên tin vào những điều như vậy không, khi mà ông cũng không thực sự biết chúng đến từ đâu ?
    Đúng, thậm chí cả những con số mà anh lấy từ các nhà kinh tế học. Có rất nhiều các khác nhau để đo những điều này. Ví dụ, nếu anh nhìn vào thu nhập của các lao động, thì phần mà top 1% chiếm là thấp hơn, bởi vì hầu hết thu nhập của họ đến từ các lợi ích tư bản. Những con số mà anh đang để ý là rất quan trọng.
  3. observer New Member

    Ðề: Bất bình đẳng [P2], nói về cuốn "The Race between Education and Technology".

    Phần này là phần phỏng vấn ông Acemoglu về cuốn sách "The Race between Education and Technology"của hai tác giả Claudia Goldin và Lawrence F Katz


    Chúng ta hãy đến với những cuốn sách mà ông đã giới thiệu. Lựa chọn đầu tiên của ông là “Cuộc đua giữa giáo dục và công nghệ”(tên gốc: The Race between Education and Technology), xuất bản bởi Harvard University Press . Ông đã đề cập trong một email trước đây rằng nó là “một cuốn sách phải đọc cho những ai quan tâm đến bất bình đẳng”. Ông có thể nói thêm về điều này.

    Đây thực sự là một cuốn sách tuyệt vời. Nó cung cấp một phác thảo rất tốt về mô hình kinh tế chuẩn mực, ở đó số tiền kiếm được là tỷ lệ thuận với đóng góp, hoặc với năng suất lao động. Nó làm nổi bật, bằng một cách rất rõ ràng, rằng điều gì xác định năng suất lao động của các cá nhân và các nhóm khác nhau. Nó lấy ý tưởng từ một câu nói của nhà kinh tế học nổi tiếng người Hà Lan, Jan Tinbergen. Ý tưởng chính là những thay đổi trong khoa học thường làm tăng nhu cầu về những công nhân lành nghề, vì vậy để giữ cho sự bất bình đẳng trong tầm kiểm soát, anh cần phải có một mức tăng ổn định trong việc cung cấp công nhân lành nghề cho nền kinh tế. Ông ta gọi điều này là « the race between education and technology » (tạm dịch là : « Cuộc đua giữa giáo dục và công nghệ »). Nếu công nghệ chiến thắng, bất bình đẳng sẽ có xu hướng tăng lên, nếu giáo dục thắng, bất bình đẳng sẽ giảm. Hai tác giả Claudia Goldin và Larry Katz cho thấy rằng nó là một mô hình khá tốt để giải thích những gì đã diễn ra trong 100 năm qua, hoặc để giải thích lịch sử của Hoa Kỳ.

    Họ đưa ra một sự mô tả tuyệt với về mặt lịch sử cho việc làm thế nào hệ thống giáo dục Hoa Kỳ đã được hình thành, tại sao nó phát triển không ngừng, và đã cung cấp thêm rất nhiều lao động có tay nghề trong nửa đầu thế kỷ. Điều này tạo ra sự bình đẳng có ý nghĩa hơn tại Hoa Kỳ so với nhiều nơi khác trên thế giới.

    Họ cũng chỉ ra 3 điểm đã thay thổi Hoa Kỳ trong khoảng 30-40 năm qua. Thứ nhất, công nghệ đã làm cho người lao động có kỹ năng hơn, và kiếm được nhiều tiền hơn trước đây. Vì vậy, nếu tất cả các thứ khác là như nhau thì điều đó dẫn tới bất bình đẳng. Thứ 2 là, chúng ta đã ở trong xu hướng toàn cầu hóa. Những điều như kinh doanh với Trung Quốc – nơi mà lao động kỹ năng thấp rẻ hơn nhiều – đang làm hạ thấp tiền lương. Thứ 3, và có thể là quan trọng nhất, đó là hệ thống giáo dục của Hoa Kỳ đang thất bại nghiêm trọng ở một mức độ nào đó. Chúng ta đã không thể làm tăng số thanh niên hoàn thành hết bậc cao đẳng hoặc trung học. Điều này thực sự đáng chú ý, và hầu hết mọi người không chú ý đến nó, nhưng tại Hoa Kỳ, thế hệ những người mà có tỷ lệ tốt nghiệp trung học cao nhất là những người sống ở giữa thập niên 60. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học hiện nay thực sự là giảm đáng kể so với lúc đó. Nếu anh nhìn vào các trường cao đẳng, anh cũng sẽ thấy điều tương tự. Đây là một điều cực kỳ quan trọng, và nó khá là sốc. Nó có một ảnh hưởng lớn đến bất bình đẳng, bởi vì nó đang làm khan kiếm lao động có kỹ năng.


    Phải chăng Goldin và Katz đi sâu vào những lý do làm cho giáo dục tại Hoa Kỳ đang thất bại?

    Họ thảo luận, nhưng không ai biết. Nó không đến từ 1 nguyên nhân, đây không phải là 1 câu chuyện đơn giản. Không phải là chúng ta đang chi tiêu ít hơn cho giáo dục. Thực ra, chúng ta đã chi tiêu nhiều hơn. Chắc chắn rằng không phải những trường cao đẳng là không có giá trị, nó rất có giá trị. Sự chênh lệch giữa số tiền kiếm được của những người tốt nghiệp cao đẳng và những người tốt nghiệp trung học đang tăng nhanh. Nó không có nghĩa rằng Hoa kỳ đang đầu tư không đủ cao vào các trường thu nhập thấp. Nhiều là đằng khác. Không phải là bữa trưa miễn phí, nhưng có nhiều tài trợ và có chi tiêu dưới các hình thức khác nhau từ cả chính quyền tiểu bang và liên bang.


    Vì vậy, không có giải pháp dễ dàng?
    Không, không có giải pháp dễ dàng. Nhưng quan trọng là điều này phải trở thành một ưu tiên hàng đầu. Có rất nhiều điều có thể được thực hiện. Cải cách, chi nhiều hơn vào trường học, những cách này tuy không phải là viên đạn bạc[] nhưng chắc chắn sẽ có ích.


    Thật là mỉa mai, trong khi Hoa Kỳ có những trường đại học hàng đầu trên thế giới. Ông là người Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng ông đang ở đây. Nhiều người nước ngoài cũng thành công ở đây nhờ vào hệ thống giáo dục.
    Vâng, nhưng ta có thể cắt nghĩa theo 2 cách. Hoa Kỳ là một vùng đất của các cơ hội, vì vậy nó đã thu hút các kỹ sư có tay nghề, các nhà khoa học và các tiến sỹ. Mặt khác, một trong những điều góp phần gây ra tỷ lệ thấp trong việc hoàn thành chương trình học trong các trường trung học và cao đẳng, đó là Hoa Kỳ mở cửa cho những người nhập cư, và quá trình hòa nhập thường chậm. Nếu bạn nhìn vào tỷ lệ đó của những người nhập cư, đặc biệt là những người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, thì con số này thấp hơn rất nhiều so với những người không phải là người nhập cư.



    Phần 3 : nói chuyện về cuốn sách Top Incomes in the Long Run of History
    của các tác giả Anthony B Atkinson, Thomas Piketty and Emmanuel Saez
    2610 thích bài này.
  4. 2610 New Member

    Ðề: Bất bình đẳng

    Vậy thì từ góc nhìn của cuốn sách "The Race between Education and Technology", ta có thể nói gì về Việt Nam?
  5. observer New Member

    Ðề: Bất bình đẳng

    Mình chưa đọc báo cáo về chênh lệch tiền lương giữa những người tốt nghiệp đại học, tốt nghiệp cao đẳng, tốt nghiệp phổ thông, nên không biết thực sự con số thế nào.
    Chỉ thấy kinh tế Việt Nam đang khựng lại, việc này đã được khá nhiều người đề cập đến, và họ giải thích điều này thông qua một thứ gọi là "Bẫy thu nhập trung bình". Điều này cho thấy những lao động được đào tạo đang không đáp ứng được nhu cầu của đà phát triển kinh tế của Việt Nam từ năm 2000 đến nay. Nếu đúng là như vậy thì hệ thống giáo dục chịu trách nhiệm khá lớn về việc khựng lại của kinh tế Việt Nam.
    Tất nhiên, người ta có thể nêu ra nhiều nguyên nhân khác nhau. Nhưng rõ ràng là hàm lượng chất xám trong những gì mà Việt Nam sản xuất được là không tăng như tốc độ tăng trưởng của GDP. Lại trở về với hệ thống giáo dục.
  6. observer New Member

    Ðề: Bất bình đẳng

    Top Incomes in the Long Run of History

    (Nhóm thu nhập cao trong dòng chảy lịch sử)
    Viết bởi các tác giả : Anthony B Atkinson, Thomas Piketty và Emmanuel Saez

    Ok, giờ thì chúng ta đến với bài báo mà ông đã chọn, "Top Incomes in the long-run of History" (tạm dịch là : Nhóm thu nhập cao trong dòng chảy lịch sử) bởi ba nhà kinh tế học châu Âu, Anthony Atkinson, Thomas Piketty và Emmanuel Saez.
    Những thiếu sót của cuốn sách của Goldin và Katz là họ không thực sự để ý đến tất cả những gì đang diễn ra trong top 10%. Đây là một phần rất quan trọng của câu chuyện và nó đòi hỏi nhiều chú ý hơn. Một số điều rất thú vị đang diễn ra ở tốp 10% những người có thu nhập cao nhất, đặc biệt là top 1%. Atkinson, Piketty và Saez đã thực sự là những người tiên phong trong vấn đề này, và bài báo của họ là một sự miêu tả chung cho nhiều nghiên cứu của họ. Bài báo chứng tỏ rằng đồng thời với sự gia tăng của chênh lệch lợi ý đầu ra của bậc đại học (college premium) và bất bình đẳng giữa một công nhân trung bình và một công nhân ở tốp trên, có một sự gia tăng rõ rệt hơn trong đóng góp của tốp 10% và tốp 1% vào tổng thu thập quốc dân tại Hoa Kỳ, Canada, Anh và những nơi khác.

    Điều gì quan trọng trong bài báo này, là những sự mô tả hay những giải thích mà họ đưa ra?
    Đối với tôi, những sự mô tả xác đáng sẽ cho biết điều gì đang diễn ra. Những người chiếm phố Wall đã mang đến con số 1% để làm cho công luận chú ý nhiều hơn, nhưng chính Atkinson, Piketty và Saez là những người đã mang nó đến và gây ra sự chú ý trong giới học thuật trong thập niên qua. Nhưng cần phải đọc những giải thích của họ, vì tầm quan trọng của một số điều mà họ nói. Ví dụ, họ nhấn mạnh rằng rất khó để giải thích những mô tả này bằng những kiến giải về cung – cầu lao động thông thường mà Goldin và Katz đã làm nổi bật trong cuốn sách của họ. Những kiến giải đó không dùng được ở đây, và chúng ta thực sự phải nghĩ về những thứ như chính sách xã hội; thuế lũy tiến và khía cạnh chính trị của nó.

    Vì vậy họ đang chú ý vào 20 quốc gia trong hơn 100 năm qua, và theo bản tóm tắt, khám phá thực nghiệm quan trọng của họ đó là, “hầu hết các quốc gia trải qua một sự sụt giảm lớn trong đóng góp của top thu nhập cao trong đầu thế kỷ 20… Tuy nhiên, hơn 30 năm qua, cái đó lại tăng đáng kể tại các quốc gia nói tiếng anh, và tại Ấn Độ và Trung Quốc, nhưng không phải ở Châu Âu hay Nhật Bản.

    Vâng, điều này rất đáng chú ý và xu hướng anh hóa đã tạo ra điều đó. Anh cũng có thể nhìn thấy nó tại nhiều quốc gia khác như Pháp, Ý, Tây Ban Nha, nhưng nó không đáng chú ý như ở các quốc gia nói tiếng anh.
    Cũng cần chú ý rằng biểu đồ hình U này cũng có thể áp dụng vào những bức tranh mà làm nổi bật lên sự bất bình đẳng trong nhóm không phải là thu nhập cao nhất, như 90 – 10 hoặc sự chênh lệch lợi ích đầu ra của bậc đại học. Ví dụ, cuốn sách của Goldin và Katz chứng tỏ rằng mức chênh lệch lợi ích đầu ra vào đầu thế kỷ 20 là cao hơn so với những thập niên 40 và 50. Sau đó nó ổn định trong vài thập kỷ, và lại bắt đầu tăng trở lại vào những năm 80.

    Khi đề cập đến top những người thu nhập cao nhất, họ đang tập trung vào top 1% hay tốp 10%?
    Họ sử dụng dữ liệu từ các hồ sơ về thuế, vì vậy họ có dữ liệu của tốp 10%, tốp 1%, tốp 0,1% và nhiều nữa. Hai cái mà họ chọn để tập trung vào là tốp 10%, đặc biệt là tốp 1%. Đôi khi họ còn đưa ra các số liệu cho tốp 0,1%. Ở đó, họ đã thực sự thấy được sự khác nhau rõ rệt giữa các quốc gia. Nếu anh nhìn vào tốp 0,1%,, nó chiếm khoảng 8% thu nhập quốc dân của Hoa, trong khi ở nhiều quốc gia khác, tỷ phần này chỉ khoảng 1% hoặc 2%. Tỷ phần này cũng tăng lên đột ngột tại Hoa Kỳ - vào thập niên 50, nó chỉ khoảng 3%.

    Một trong những điều họ chỉ ra là đóng góp của tốp thu nhập cao nhất tại Hoa Kỳ và Anh bắt đầu tăng trong thời Reagan và Thatcher lãnh đạo. Sự tăng lên về bất bình đẳng này không phải chỉ là kết quả của chính sách giảm thuế đối với những người giàu chứ?
    Cá nhân tôi không nghĩ rằng đó là lý do chính, mặc dù nó có vai trò. Nó tác động đến thu nhập tư bản. Khi anh nhìn vào tốp 0,1%, nhiều trong số họ là những người kiếm tiền từ tư bản (capital earner). Vì vậy nếu anh đánh thuế tư bản nặng, thì sự giầu có dẫn đến có nhiều thư bản ra đi và thu nhập tư bản sẽ phân phối không đều. Có một hiệu ứng rất cơ học từ việc đánh thuế đó. Nhưng có hai tác động khác, khó thấy hơn. Một là việc đánh thuế lũy tiến hơn – đánh thuế cao hơn vào tốp trên – có thể cản trở người ta làm việc chăm chỉ và cố gắng. Điều đó sẽ làm giảm thu nhập của họ và do đó giảm bất bình đẳng. Điều đó là thể không hiệu quả, nhưng đó là một trong những việc xảy ra khi anh có thuế cao. Thứ hau, nó có thể làm thay đổi các mà người ta mặc cả với công ty của họ và khuyến khích những hoạt động đặc lợi để tăng lương hoặc thưởng của họ. Nếu tốp những người thu nhập cao nhất bị đánh thuế ở mức cực cao, giả dụ như, 99% thì không có một CEO nào thèm làm những thứ bán bất hợp pháp để tăng thu nhập của họ, vì rằng việc đó chẳng mang lại lợi ích gì cho họ. Nhưng nếu là 30%, và các CEO có thể toan tính về lương của họ, họ có thể bị cám dỗ làm những việc như CEO của Enron, Kenneth Lay đã làm (người dịch: ông Lay là CEO của công ty Enron, đã bị truy tố vào năm 2004 về 11 tội danh liên quan đến gian lận cổ phiếu và lừa gạt thông tin liên quan đến công ty của mình), bởi vì họ kiếm được nhiều tiền từ những việc làm đó. Vì vậy trong khi tỷ lệ thuế cao đánh vào tốp những người thu nhập cao có thể làm giảm sự nỗ lực cố gắng của người ta, nó cũng có thể làm giảm những hoạt động đặc lợi của họ.


    Phần 4 : Về cuốn sách « Tại sao các quốc gia thất bại » của Acemoglu và Robinson.
    2610 thích bài này.
  7. 2610 New Member

    Ðề: Bất bình đẳng

    Cuốn này phát hành vào tháng 3 tới. Mà thấy nhiều nơi đã tiếp thị tới tấp. Những cuốn này hơi kén người đọc, nên chắc khó có bác nào bỏ công ra dịch ra tiếng việt.
    Thôi thì trong lúc này đọc review, coi như ngắm hoa qua ảnh chụp vậy. :D
  8. observer New Member

    Ðề: Bất bình đẳng

    Ta tiếp tục với cuốn sách thứ 3: Why Nations Fail? của Daron Acemoglu và Jame Robinson.
    Nếu ta để ý thì trong dân gian Việt Nam đã có câu thể hiện quá trình vận động của lịch sử chính trị của các xã hội.
    Con vua thì lại làm vua
    Con sãi ở chùa thì quét lá đa
    Bao giờ dân nổi can qua
    Con vua thất thế thì ra quét chùa.

    Có điều rằng, người Việt Nam chúng ta có xu hướng mọi việc một cách ngắn gọn, nhẹ nhàng, mà chưa thấy chúng ta tổng kết lại, phát triển thành các học thuyết lớn. Có lẽ đây là một điều cần thay đổi trong tương lai nếu như chúng ta muốn có nhiều nhà tư tưởng.
    Sau đây là phần tiếp của bài phỏng vấn.

    OK, do đó, để thấy nhiều hơn quan điểm của chính ông, chúng ta hãy nói về cuốn sách của ông Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity and Poverty.
    (tạm dịch là Tại sao các quốc gia thất bại: Nguồn gốc của Quyền lực, Thịnh vượng và Nghèo đói.)

    Theo cách hiểu của sự bất bình đẳng cao này, tôi đã đề cập tới khả năng mà lý do có thể là về mặt chính trị. Chúng ta nên nghĩ sao về chính trị? Các đòn bẩy của nó? Cuốn sách này cố gắng đưa ra một mô hình nghiên cứu mà chúng ta cần để nghiên cứu những điều trên. Nó được viết cùng với người bạn và cũng người cộng tác lâu năm của tôi, Jim Robinson , nó không hẳn chỉ về bất bình đẳng ở Hoa Kỳ, Anh hay Canada. Cuốn sách lướt qua lịch sử thế giới và cố gắng giải thích các xã hội đã vận động thế nào, và tại sao chúng thường thất bại trong việc tạo ra sự thịnh vượng cho các công dân của nó. Đây là một câu chuyện thực sự mang tính chính trị.
    Trọng tâm của mô hình nghiên cứu của chúng tôi đó là áp lực giữa việc người ta có quyền lực chính trị và làm cách nào họ sử dụng quyền lực đó cho chính những lợi ích của họ và cho cả lợi ích của phần còn lại của xã hội.
    Chúng ta không sống trong trong một thế giới có tổng bằng không – và có nhiều khả năng để tạo sự thịnh vượng mà nhiều xã hội đã khai thác – nhưng cũng có vài khía cạnh có tính chất tổng bằng không. Thông thường thì sẽ có những căng thẳng trong xã hội về việc ai sẽ giành được miếng lớn nhất, và người ta sẽ cố gắng để vận động toàn bộ cơ cấu của các thiết chế để giành lấy điều đó. Vì vậy đó là câu chuyện mà chúng ta phát triển để hiểu được tại sao các xã hội lại phát triển những thiết chế của nó. Những thể chế chuyên chế đã tạo ra một sự phân phối rất không đều về cả quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế trong xã hội, hai điều này đã quện chặt lấy nhau – sự phân phối không đều về quyền lực chính trị bị khóa chặt trong sự phân chia không đều về lợi ích kinh tế. Điều này đã tạo ra một vòng luẩn quẩn, nhưng những xung đột mà nó sinh ra đôi khi lại dẫn tới một sự sụp đổ của các thiết chế mà trên đó phân phối bất bình đẳng được tồn tại, mở ra một con đường cho những thiết chế cởi mở hơn, và những điều đó là một trong những phương tiện để đạt đến thịnh vượng.

    Phần cuối của cuốn sách là một bàn tròn, đề cập tới làm thế nào toàn bộ các thiết chế này, cái mà tạo ra một sự phân phối công bằng hơn về quyền lực chính trị và vì vậy tạo một sân chơi bình đẳng hơn, sẽ bị thử thách liên miên. Toàn bộ các thiết chế này không đảm bảo rằng mọi thứ sẽ được phân phối đều, nhưng nó sẽ, ít nhất là, ngăn chặn những phương án tệ nhất, bất quân bình nhất trong việc việc phân phối nguồn lợi. Chúng cũng đảm bảo một sự phân phối đều hơn về quyền lực chính trị trong xã hội. Nhưng không có một sự đảm bảo nào cho việc chúng sẽ kéo dài mãi. Nếu anh có thể thu vén sự ủng hộ, và quyền lực chính trị, thì sẽ hiện diện một nguy cơ về việc anh có thể bắt đầu tinh chỉnh các thiết chế đó theo hướng có lợi cho anh. Những thách thức liên lục đến đối với toàn bộ các thiết chế chính trị. Vì vậy trong mô hình nghiên cứu này, anh có thể thấy những đe dọa của sự gia tăng bất bình đẳng tại Hoa Kỳ như một dấu hiệu của những thách thức đối với tập hợp toàn bộ các thiết chế quyền lực mà Hoa Kỹ đã có trên 200 năm qua.
    Tóm lại, anh không thể được tự mãn về những thiết chế chính trị của anh, chỉ bởi vì nó hoạt động tốt từ trước tới nay ?
    Không, và chúng tôi đưa ra những ví dụ về việc làm thế nào những xã hội khác đã nhìn thấy những hướng thay đổi trong các thể chế của chúng. Ví dụ, Venice. Nó bắt đầu với việc toàn bộ các thiết chế không được đặt song song, và sau đó nó trải qua một quá trình mà ở đó những thiết chế ngày càng bị kiểm soát bởi một nhóm nhỏ hơn, và cuối cùng đi ngược lại sự tiến bộ mà Venice đã làm.
    Vì vậy, ông nghĩ rằng sự thịnh vượng tương đối của một quốc gia không đi kèm với vị trí địa lý, khí hậu hay văn hóa của nó, mà đi kèm với hệ thống chính trị của nó?
    Đúng thế. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng đó là một điềm góc nhìn thực sự gây tranh cãi, nhưng nó là như thế, tôi biết vậy. Chúng ta bị buộc phải nghĩ đến những yếu tố như văn hóa, địa lý bởi vì chúng ở đó, bất di bất dịch. Chúng ở đó và vì vậy chúng phải là quan trọng. Việc thành phố Mexico ấm hơn nhiều so với New York, quan trọng như thế nào? Cũng như vậy với việc một số người là người hồi giáo, còn một số khác là Ki-tô giáo? Nhưng quả thực là không có gì thực sự quan trọng như việc chúng xuất hiện. Trong những chương đầu tiên, chúng tôi cung cấp tư liệu về việc có bao nhiêu phần của thế giới, mà ngày nay rất thịnh vượng, tương đối lạc hậu vào thời kỳ người Châu Âu đến đô hộ họ. Tuy nhiên, những nơi như Mexico hoặc Peru sau đó nằm trong những phần văn minh và phát triển nhất. Đó là tập hợp những thiết chế chính trị và kinh tế khác nhau đã được đặt ở những nơi này, dẫn tới một sự đảo ngược và phân kỳ. Điều tương tự cũng đúng với các giá trị văn hóa và tôn giáo. Mối liên hệ giữa những điều này và kết quả kinh tế không phải là bất di bất dịch. Thường thì chúng là những hệ quả của những chặng đường chính trị khác nhau mà những nơi này đã trải qua.
    Vì vậy, một xã hội bình đẳng hơn luôn luôn tốt hơn và thịnh vượng hơn?
    Có ba khái niệm khác nhau ở đây. Một là sự bình đẳng về quyền lực chính trị. Thứ hai là bình đẳng cơ hội, và thứ ba là bình đẳng về kết quả kinh tế.
    Xã hội có thể rất không hiệu quả nếu chúng ta áp dụng bình đẳng về kết quả kinh tế, bởi vì những nhân tố nguồn gốc, mà tạo ra sự thịnh vượng, đòi hỏi rằng các cá nhân phải có quyền sở hữu, có động lực, từ đó họ cố gắng, làm việc chăm chỉ và đầu tư. Điều đó chắc chắn sẽ liên quan đến bất bình đẳng, nhưng nếu anh cố gắng ngăn chặn bất bình đẳng, thì sẽ tạo ra sự thiếu hiệu quả và có thể sẽ bóp chết sự thịnh vượng.
    Để cung cấp cho anh 1 ví dụ, việc đánh thuế các doanh nghiệp phần mềm chắc chắn không phải là cách tốt nhất để khuyến khích sự dẫn đầu về công nghệ mà Hoa Kỳ có. Nhưng sẽ khác đi nếu anh đang nói về bình đẳng cơ hội. Nếu anh không có được sự bình đẳng về cơ hội, nó sẽ tạo ra không chỉ một xã hội không công bằng mà còn không triển khai được những nguồn lực theo cách tốt nhất. Quay trở lại với ví dụ phần mềm, nếu anh muốn tăng trình độ công nghệ của Hoa Kỳ, điều mà anh muốn làm là chuẩn bị tốt một cái nền mà đưa cơ hội cho những cái đầu tốt nhất đề họ có thể chọn con đường mà họ muốn. Và trong ví dụ phần mầm, nó sẽ tạo ra những sự đổi mới tốt hơn trong lĩnh vực phần mềm.
    Điều quan trọng hơn là bình đẳng về quyền lực chính trị. Khi quyền lực chính trị được phân phối rất không đều, chắc chắn sẽ rơi vào trường hợp mà những người có quyền lực chính trị sẽ bắt đầu sử dụng nó để tạo ra một sân chơi không sòng phẳng cho họ. Họ sẽ cố gắng sử dụng quyền lực chính trị để diệt trừ phần còn lại và chiếm đoạt các thứ làm lợi cho họ, và gây hại cho xã hội.

    Tôi hoàn toàn thoải mái từ góc độ cá nhân với việc bất bình đẳng kinh tế đang nổi lên nếu như nó thực sự phản ảnh những sự đóng góp xã hội các nhau mà những cá nhân tạo ra. Đó là cái giá mà chúng ta trả để tạo ra động lực cho những người đóng góp vào sự thịnh vượng. Nhưng có một điều cần lường trước. Nếu cuối cùng thu nhập trở lên rất không đều, kể cả là cho nguyên nhân tốt, nó có thể tạo ra một vấn đề nhạy cảm, bởi vì những người rất giầu lúc này sẽ kiểm soát rất nhiều nguồn lực của xã hội và có thể họ sẽ bắt đầu sử dụng những thứ đó để tạo ra một sự phân phối không đều về quyền lực chính trị.
  9. observer New Member

    Ðề: Bất bình đẳng

    Hai cuốn sách còn lại là Unequal Democracy của Larry M Bartels13 Bankers của Simon Johnson và James Kwak bàn luận thiên về mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực và các lợi ích kinh tế.

    Tuy nhiên có không có nhiều ý hay trong đoạn phỏng vấn, và cũng ko đi sâu vào 2 cuốn sách đó nên mình không dịch ở đây. Bạn nào có ý muốn tìm hiểu thì nên đọc cả cuốn sách.
  10. 2610 New Member

Chia sẻ trang này